Tuyển Tập Các Bài Sám 3


55 Bài Sám Văn Phổ Thông

Tái Bản Lần Thứ 3, (Có Sửa Chữa Bổ Sung)
Đồng Bổn biên tập - Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh  - Phật Lịch 2541





Tập III

Phần Thứ Ba
Các Bài Sám Văn Cầu An, Cầu Siêu Và Tịnh Độ

28. SÁM CẦU AN (I)
Con quỳ lạy Phật chứng minh,
Hai hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền, 
Cầu cho thí chủ hiện tiền, 
Nội gia quyến thuộc bình yên điều hòa,
Thọ trường hưởng phước nhàn ca, 
Phổ Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi.
Quan Âm phò hộ vui chơi, 
Mười hai câu nguyện độ đời nên danh,
Thiện nam tín nữ lòng thành, 
Ăn chay niệm Phật làm lành vái van.
Quan Âm xem xét thế gian, trầm,
Mau mau niệm Phật Quan Âm, 
Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa,
Đương cơn lửa cháy đốt ta, 
Niệm danh Bồ Tát hóa ra sen vàng. 
Gió Đông đi biển chìm thuyền, 
Niệm danh Bồ Tát sóng tan hết liền. 
Tà ma quỉ báo khùng điên, 
Niệm danh Bồ Tát mạnh liền khôn ngoan. 
Vào rừng cọp rắn nghinh ngang,
Niệm danh Bồ Tát nó càng chạy xa.
Tội tù ngục tối khảo tra, 
Quan Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng.
Bị trù bị ếm mê mang,
Quan Âm niệm niệm vái van tịnh bình.
Quan Âm thọ ký làm tin, 
Tùy duyên thuyết pháp độ mình hết mê. 
Nương theo Bồ Tát trở về,
Thấy mình ngồi gốc Bồ đề giống in, 
Tay cầm bầu nước tịnh bình, 
Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng,
Cam lồ rưới khắp thế gian, 
Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn.
Quan Âm cứu hết tai nàn, 
Độ đời an lạc mười phương thái bình, 
Quan Âm điểm đạo độ mình, 
Quan Âm Bồ Tát chứng minh độ đời.
 

- Trích từ "Kinh Nhựt Tụng" Nhà in Sen Vàng - Sài gòn 1970 và "39 bài sám nghĩa " của Thích Thiện Tâm - Sađéc 1961.
 
29. SÁM CẦU SIÊU (I)
Trên bảo tọa khói hương nghi ngút,
Tấm lòng thành nhiệt huyết từ đây, 
Mây lành năm sắc phủ vây, 
Chở che nhơn loại lắm thay oan hồn.
Vẫn biết chữ “tử qui, sanh ký”, 
Người trần ai, ai dễ sống lâu,
Nhưng vì nghĩa nặng ơn sâu, 
Thương tình đồng loại với nhau một giòng.
Bất cứ là kẻ Âu người Á,
Giống da nào cũng loại sanh linh, 
Đạn rơi súng nổ thình lình, 
Nỡ đem toàn thể tan tành thịt xương.
Đệ tử tôi hết lòng cầu khẩn,
Xin Phật từ cứu độ vong linh, 
Ngưỡng nhờ lượng Thánh cao minh, 
Xót thương đoái tưởng phù sanh khốn nàn.
Sanh bất hạnh nhằm thời mạt pháp,
Chịu trăm bề khốn khổ xiết bao,
Sống thời vất vả lao đao, 
Thác không toàn thể thây giao tử thần. 
Bơm rơi xuống tan xương nát thịt,
Đạn bay ngang phách lạc hồn kinh, 
Sẵn lòng khấn vái đinh ninh,
Hồn nương mây bạc linh đinh cõi ngoài. 
Xin kíp đến qui y Tam Bảo,
Nước nhành dương rửa sạch lòng trần,
Gội nhuần đức Phật thâm ân, 
Bao nhiêu tội chướng cũng lần đặng tiêu.
Dạ chí thiết cúi đầu bệ ngọc, 
Chí ân cần siêu độ vong linh,
Trời cao bể rộng mông mênh, 
Bao la vạn tượng hồn linh an nhàn. 
Nay hết lúc lầm than khổ sở, 
Kíp trở về Cực lạc Tây phương,
Ta nay hưởng phước Lạc bang, 
Tiêu diêu cực điểm ngày ngàn thảnh thơi.
Xin nhắc nhở ai ơi nghe lấy, 
Ráng gìn lòng giữ vững đạo tâm,
Đức nhuần mầu nhiệm huyền thâm, 
Mặc dù sanh tử thân tâm lẽ thường.
Kiếp nhân sanh là đường tạo hóa,
Nẻo luân hồi khứ khứ lai lai, 
Hữu tình hữu hoại đổi thay,
Sắc không không sắc mới hay vô thường.
Dầu tài sắc trăm năm cũng thế,
Kiếp phù sanh há dễ sống lâu,
Vong hồn ơi hỡi lo âu, 
Rán lo kinh kệ ngõ hầu siêu thăng.

Trích và đối chiếu từ hai bản "39 bài Sám nghĩa" và "Tam Bảo Tôn Kinh " (Sđd). Có sửa chữa lại cho đúng hơn lần in trước.
 
30. SÁM CẦU SIÊU (II)
Xây mặt đến Tây phương Cực lạc,
Lạy đức Thầy tiếp bạt chúng sanh,
Mong Thầy thương đến vong linh,
Độ về Cực lạc nên danh sen vàng.
Ví dầu vong lắm nghiệp oan, 
Nhờ ơn đức Phật thoát nàn thọ sanh,
Bởi hồn nghiệp trọng phước khinh,
Chướng đầy huệ mỏng, phàm tình tối tăm.
Chết đi sống lại xoay vần,
Ở trong nhà lửa lắm lần đổi thay,
Chấp thân chấp ngã thiệt dày,
Tham, sân, si muội hằng ngày chẳng lơi.
Sát sanh hại vật giết người,
Tà dâm, trộm cắp, lời sai, rượu ghiền.
Gièm pha, thêu dệt, đảo điên, 
Kiêu căng, tật đố lại thêm kiến tà,
Khinh khi Tam Bảo người ta, 
Lờn thầy, cãi mẹ, nghịch cha, bất bình.
Dấn thân vào chốn lợi danh,
Tạo nhơn kết quả gây thành oan gia,
Nay dầu hồn có xuất ra,
Nghiệp nào báo nấy chịu qua cực hình.
Nay tôi phát nguyện chí thành,
Trước ngôi Tam Bảo gieo bền lòng ngay, 
Mở gan trải dạ tỏ bày,
Hết lòng sám hối hồn rày nhờ nương.
Nguyện hồn giải hết oan ương, 
Từ đời kiếp trước không lường đến nay,
Hết cơn mê tối dại ngây, 
Sân, si cũng dứt, nhớ lời dạy khuyên.
Tịnh thanh ba nghiệp thuần nhiên, 
Nước cam lồ sái sạch liền còn đâu, 
Ví dầu tội nghiệp chất đầu, 
Nguồn ân bể ái thảm sầu cạn không. 
Ngửa trông đức Phật bao dung, 
Tội mòn nghiệp hết thoát vòng khổ ba, 
Nguyện cầu Từ phụ Di Đà.
Đem lòng quảng đại độ mà hồn lên, 
Hồn đà dứt hết nghiệp duyên, 
Phát ra chánh niệm tinh chuyên vững vàng,
Hồn huờn giác tánh rõ ràng,
Thấy Di Đà Phật hào quang rạng mình. 
Cầu hồn sắc tướng quang minh, 
Thấy Di Đà Phật tâm tình vui an, 
Nguyện hồn về cảnh Lạc bang,
Thấy Di Đà Phật tòa vàng nói kinh. 
Hào quang Phật chiếu thanh minh, 
Tay vàng rờ đảnh, nước lành thanh lương,
Tánh linh mầu nhiệm tỏ tường, 
Mau nghe chánh pháp dứt đường trần lao.
Tòa sen rực rỡ trong ao, 
Đỏ, vàng, xanh, trắng tuôn hào quang ra, 
Hồn ngồi chểm chệ xem hoa,
Phật cùng Bồ Tát hằng hà nhóm đông.
Hồn nghe pháp nhiệm tỏ lòng,
Chứng vô sanh nhẫn chơn tông thượng thiền,
Chỉ trong giây phút thành duyên, 
Tam thân, tứ trí tánh thiêng nhớ hoài.
Sáu thông, năm mắt, hiện lai, 
Bao nhiêu công đức đủ đầy huyên thuyên,
Hồn về cõi Phật ở yên, 
Cũng nên để bước độ duyên Ta bà,
Thần thông biến hóa phân ra, 
Mười phương độ hết người mà trầm luân.
 
 

Trích từ "Kinh Di Đà Nghĩa và 36 bài sám hay" đối chiếu lại với "Liên Hoàn sám nguyện " Thích Thiện Tâm - Sađéc 1961.
 
31. SÁM CẦU SIÊU (III)
Đạo tràng nghi ngút khói hương,
Mười phương chư Phật xót thương muônngàn,
Phật đài cao tột nghiêm trang,
Chúng con Phật tử hai hàng cầu siêu.
Cầu cho vong giả nghiệp tiêu,
Dứt điều oan báo, đủ điều phước duyên.
Cầu trên chư Phật hiện tiền,
Độ cho vong giả về miền Lạc bang.
Ví dầu vong lắm nghiệp oan,
Nhờ ơn chư Phật dứt đàng tử sinh,
Vô thường chi phối thình lình,
Làm cho người thế hồn kinh phách tà.
Mong cầu đức Phật Di Đà,
Phóng ra một ngọn chói lòa hào quang.
Trong khi tiếp dẫn rõ ràng,
Dắt hồn ra khỏi sáu đường nghiệp nhân. 
Quán Âm Bồ Tát hóa thân,
Tay cầm nhành liễu tay bưng kim đài, 
Theo cùng Thế Chí các Ngài, 
Thảy đều tiếp độ lên ngai sen vàng.
Sẵn sàng bảo cái tràng phan,
Có mùi hương lạ có đàng ngọc xây, 
Các trời đứng sẵn trên mây, 
Nghe rền thiên nhạc đi ngay một đường. 
Hồn về đến cõi Tây phương, 
Thấy ao thất bảo với hương ngũ phần,
Lưu ly quả đất sáng ngần, 
Nước ao bát đức xoay vần chảy quanh.
Thất trân có bảy lớp thành, 
Bảy hàng cây báu bảy vành lưới châu,
Nào là ngân các kim lâu, 
Có chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe.
Nghe rồi tỏ đạo Bồ đề,
Bao nhiêu nghiệp chướng hồn mê hết liền.
Được sanh về chín phẩm sen,
Nghiệp oan dứt sạch, nhơn duyên sẵn tròn.
Di Đà thương xót độ con, 
Con đà gặp mẹ chẳng còn lo chi, 
Thất trân báu vật thiếu gì, 
Dùng cơm hương tích, mặc thì áo châu, 
An vui giải thoát không sầu, 
Không già, không chết có đâu luân hồi.
Tánh xưa nay đã tỏ rồi, 
Gương xưa cũng đã hết hồi trần ô,
Tu hành chẳng đợi kiếp mô,
Bỏ tà theo chánh dứt đồ quỷ ma.
Hồn về Cực lạc liên hoa,
Phật cùng Bồ Tát hằng hà quá đông.
Hồn nghe pháp nhiệm tỏ lòng,
Ngộ luôn sáu pháp thần thông nhớ hoài.
Lòng trong trí sáng ai ai, 
Phước duyên công đức phép tài tự nhiên.
Hồn về Cực lạc ở yên, 
Sau rồi trở lại hóa duyên Ta bà.
Thần thông biến hóa hiện ra, 
Mười phương cứu độ, trẻ già vãng sanh.
Nguyện hồn về cõi Lạc thành,
Hoa sen chín phẩm nêu danh tỏ tường,
Trọn lành hưởng cảnh Tây phương,
Tội tiêu nghiệp dứt kiết tường thanh lương.
Di Đà giáo chủ Tây phương,
Độ vong hồn đặng lên đường Lạc bang.
 
 

- Trích từ "39 Bài sám nghĩa" và đối chiếu sửa chữa bổ sung từ "Kinh Nhựt Tụng" chùa Đại Giác - Sài gòn 1974.
 
32. SÁM PHẬT TỔ  (Sám tán Di Đà II)
Cúi đầu làm lễ Tây phương, 
Cha lành bốn bể dẫn đường cho con, 
Một lòng gìn giữ vuông tròn, 
Sân, si nghiệp chướng nay con nguyện chừa.
Rèn lòng kinh kệ sớm trưa,
Nguyện con ra khỏi nắng mưa cõi trần, 
Ngưỡng cầu đức Phật thi ân, 
Đoái thương đệ tử trong trần sớm lên.
Nay con trai giới giữ bền, 
Nguyện về Cực lạc làm nên độ người.
Từ đời vô thỉ mấy mươi, 
Bởi chưng mê muội lánh mười việc nhơn.
Muôn trông đức Phật điểm đơn,
Thọ truyền đệ tử dứt cơn não phiền,
Bền lòng tới chốn Tây thiên, 
Cầu về Cực lạc thanh liên đời đời,
Quyết lòng mỏi mệt chẳng rời,
Giữ gìn đạo đức việc đời bỏ đi.
Cúi xin Phật Tổ từ bi, 
Dắt dìu con trẻ liên trì thẳng qua,
Bởi vì mê muội sai ngoa,
Quên trong chơn tánh vào ra luân hồi.
Quyết lòng học tập trau dồi, 
Nguyện làm nên đạo đền bồi bốn ơn,
Dốc lòng niệm Phật chẳng sờn,
Về nơi Tịnh độ chỉ đờn làm nên. 
Con nay tình nguyện xông lên,
Cúi gieo năm vóc dạ bền thiết tha, 
Ngưỡng cầu đức Phật Di Đà, 
Dắt dìu đệ tử vượt qua cõi trần.
Từ rày khuya sớm ân cần, 
Chướng dày thệ dứt lánh lần đường xưa.
Cho dầu nghiệp cũ dây dưa, 
Nguyện con ra khỏi nắng mưa cõi đời.
Thệ con nên Phật mới thôi,
Cứu vòng đọa lạc mới hồi tịnh bang,
Nguyện lên chín phẩm sen vàng,
Độ loài mọt mạy muôn ngàn thảnh thơi.
Như con gần có qua đời,
Nguyện cầu Phật Tổ tới nơi tiếp về,
Ở trong ba cõi đắm mê, 
Lộn vào nhiều kiếp chớ hề thở than.
Ngưỡng trông đức Phật mở mang,
Đoái thương đệ tử muôn ngàn xuống lên, 
Nguyện về Cực lạc vững bền,
Liên hoa phụ mẫu cõi trên thanh nhàn.

- Trích đối chiếu sửa chữa bổ sung từ ba bản in : Tam Bảo Tôn Kinh, Kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác, Liên Hoàn Sám nguyện (sđd). - Chưa biết xuất xứ trước tác.
 
33. SÁM NIỆM PHẬT  (Sám tán Di Đà III) 
Một lòng giữ niệm Di Đà, 
Hồng danh sáu chữ thật là rất cao,
Năng trừ tám vạn trần lao,
Người đời nên sớm hồi đầu mới hay. 
Khuyên ai xin chớ mê say,
Tịnh tâm niệm Phật việc gì cũng an, 
Niệm Phật tội nghiệp tiêu tan,
Muôn tai ngàn họa khỏi mang vào mình. 
Niệm Phật mở trí cao minh, 
Bao nhiêu hôn chướng chẳng sinh vào lòng. 
Niệm Phật cứu đặng tổ tông, 
Khỏi nơi biển khổ thoát vòng sông mê.
Niệm Phật thân tộc đề huề
Một nhà sum hợp chẳng hề ghét nhau.
Niệm Phật khỏi khổ khỏi đau, 
Bao nhiêu tật bịnh mau mau hết liền. 
Niệm Phật có phước có duyên, 
Tấn tài tấn lợi bình yên cửa nhà.
Niệm Phật trừ đặng tà ma, 
Yêu tinh quỉ quái lánh xa ngàn trùng.
Niệm Phật năng khử độc trùng,
Các loài ác thú hóa hung làm hiền. 
Niệm Phật hết khùng hết điên. 
Có gương trí huệ có đàng quang minh.
Niệm Phật khỏi sự bất bình, 
Sự người chẳng nhớ sự tình chẳng ưa. 
Niệm Phật cứu số long đong, 
No cơm ấm áo thung dung mãn đời.
Niệm Phật cảm động khắp nơi,
Ai ai cũng mến người người đều thương. 
Niệm Phật sanh dạ hiền lương,
Từ bi thì có, bạo cường thì không.
Niệm Phật trời cũng thương lòng,
Thường thường ủng hộ cả trong đêm ngày. 
Niệm Phật thần cũng kính vì, 
Thường hay trợ niệm trong khi đứng ngồi.
Niệm Phật lòng chẳng bồi hồi,
Như cây không gió nhánh chồi chẳng rung. 
Niệm Phật khỏi sự hãi hùng,
Gian tà đạo tặc chẳng chung tới nhà. 
Niệm Phật giấc ngủ an hòa,
Chiêm bao không có niệm tà đều không.
Niệm Phật oan trái trả xong,
Nợ trần kiếp trước hết mong hết đòi.
Niệm Phật trăm việc xong xuôi,
Dầu sanh dầu tử cũng vui tấm lòng.
Niệm Phật hết sự đèo bồng,
Chẳng ham tài lợi bỏ vòng công danh.
Niệm Phật uế nhiễm chẳng sanh,
Cái gương tâm tánh như vành trăng thu.
Niệm Phật lòng có sở cầu,
Muốn tu thời đặng dễ đâu sai lầm.
Niệm Phật huờn đặng chơn tâm, 
Bao nhiêu nghiệp cảm tiêu trầm biển khơi.
Niệm Phật chắc sống trọn đời,
Khỏi vòng nước lửa khỏi nơi hung tàn.
Niệm Phật thân thể bình an,
Khỏi vương ách nạn chết oan trên đời.
Niệm Phật bổ đức các nơi,
Phá tan địa ngục rã rời ma quân.
Niệm Phật, Phật phóng hào quang,
Các ông hóa Phật ngồi ngang trên đầu.
Niệm Phật, Phật chẳng bỏ đâu,
Niệm đâu Phật đó phải cầu chi xa.
Niệm Phật chắc Phật rước ta,
Tây phương đã sẵn một tòa bông sen.
Niệm Phật phải niệm cho chuyên, 
Thì bông sen ấy liền liền tốt tươi.
Niệm Phật niệm niệm không rời,
Tinh thần đã sớm dạo chơi liên trì.
Niệm Phật lơ láo ích chi, 
Sen kia khô héo khó mà tốt tươi.
Niệm Phật cần phải kỉnh thành,
Giữ cho thanh tịnh trong mình lục căn.
Niệm Phật như nước với trăng,
Nước trong trăng tỏ, nước nhăn trăng lờ.
Niệm Phật có lắm huyền cơ,
Miễn đừng đem dạ nghi ngờ là xong.
Niệm Phật giữ một tấm lòng,
Di Đà oai đức minh mông biển trời.
Đức Phật biến hóa khắp nơi,
Thương người cứu vớt những người trầm luân.
Chí tâm niệm Phật tinh cần, 
Lâm chung hậu nhựt trọn phần vãng sanh. 
 

- Trích đối chiếu, sửa chữa lại từ bốn bản in : Kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác, Tam Bảo Tôn Kinh, 39 bài sám nghĩa, Liên Hoàn Sám nguyện (sđd ) - Chưa rõ xuất xứ của người trước tác.
 
34. SÁM ĐẠI TỪ  (Thập phương diễn nghĩa I) 
Mười phương cõi Phật hằng sa, 
Pháp vương thứ nhứt Di Đà lớn thay, 
Cảm oai đức Phật cao dày,
Ao sen chím phẩm độ nay phàm tình. 
Tôi tin có Phật gởi mình, 
Một bề lánh dữ theo lành mà thôi, 
Phước lành bằng chút mảy chồi, 
Gắng làm cho trọn lòng tôi không rời.
Nguyện đồng niệm Phật mỗi người, 
Cầu cho cảm ứng theo thời hiện ra, 
Mãn duyên thấy Phật Di Đà,
Tây phương chói rạng sáng lòa mắt tôi. 
Kẻ nghe người thấy tiếc ôi, 
Rủ nhau tin tưởng lần hồi tu theo, 
Tỏ đường sanh tử các điều, 
Y như Phật dạy, dắt dìu chúng sanh. 
Dứt lòng phiền não mê tình, 
Không lường pháp nhiệm nguyện hành học tu,
Thệ nguyện độ hết phàm phu, 
Đều nên đạo Phật ngao du độ đời. 
Lòng này chẳng dám lộng khơi. 
Hư không mòn hết nguyện tôi còn hoài,
Nguyện cho cây, cỏ, đá, chai, 
Bò, bay, máy, cựa, các loài thung dung, 
MỘT là nguyện Phật thần thông,
Chứng minh đệ tử thành công lâu dài. 
HAI là nguyện lạy Như Lai, 
Cầu cho già trẻ gái trai làm lành. 
BA là phát nguyện chí thành,
Cúng dường Tam Bảo tứ sanh khỏi nàn.
BỐN là nguyện dứt nghiệp oan, 
Vượt qua biển khổ ba đường thoát qua, 
NĂM là nguyện học Thiền na, 
Bạn lành nương cậy thầy tà lánh xa. 
SÁU là nguyện Phật nói ra,
Xoay vần chánh pháp khắp tòa đặng nghe.
BẢY là nguyện Phật chở che,
Ở lâu dạy bảo người nghe tỏ lòng. 
TÁM là nguyện bạn ở chung, 
Những lời Phật dạy học cùng với nhau.
CHÍN là nguyện trước nhớ sau, 
Thuận theo thế tục dám đâu trái lời. 
MƯỜI là nguyện khắp trong đời,
Quay mình bước tới thẳng dời Lạc bang.
Tôn sư diễn nghĩa ít hàng,
Cầu cho bá tánh Tây phương mau về. 
 
 

- Bài sám của Tổ Đại Từ trước tác- Chưa rõ xuất xứ của Tổ - Được in trong hầu hết các kinh Nhựt Tụng từ xưa đến nay - Là bài sám Thập phương nghĩa, biên giả đặt cho mã số thống kê trong các dị bản là I.
 
35. SÁM TỪ VÂN  (Sám Nhứt tâm nghĩa I)
Một lòng mỏi mệt không nài, 
Cầu về Cực lạc ngồi đài liên hoa, 
Cha lành vốn thiệt Di Đà, 
Soi hào quang tịnh chói lòa thân con. 
Thẩm sâu ơn Phật hằng còn, 
Con nay chánh niệm lòng son một bề, 
Nguyện làm nên đạo Bồ đề, phương. 
Phật xưa lời thệ tỏ tường, 
Bốn mươi tám nguyện dẫn đường chúng sanh,
Thề rằng ai phát lòng lành, 
Nước ta báu vật để dành các ngươi.
Thiện nam tín nữ mỗi người,
Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra, 
Ta không rước ở nước ta, 
Thệ không làm Phật chắc là không sai.
 Bởi vì tin tưởng Như Lai, 
Có duyên tưởng Phật sống dai vô cùng.
Lời thề biển rộng mênh mông, 
Nhờ nương đức Phật thoát vòng trần lao. 
Tội mòn như đá mài dao, 
Phước lành thêm lớn càng cao càng dày.
Cầu cho con thác biết ngày, 
Biết giờ, biết khắc biết rày tánh linh. 
Cầu cho bịnh khổ khỏi mình, 
Lòng không tríu mến chuyện tình thế gian.
Cầu cho thần thức nhẹ nhàng,
In như thiền định họ Bàng thuở xưa. 
Đài vàng tay Phật bưng chờ,
Các ông Bồ Tát bây giờ đứng trông.
Rước con thiệt đã nên đông, 
Nội trong giây phút thảy đồng về Tây. 
Xem trong cõi Phật tốt thay, 
Hoa sen đua nở tánh nay sạch trần. 
Hội nầy thấy Phật chơn thân, 
Đặng nghe pháp nhiệm tâm thần sáng trưng. 
Quyết tu độ chúng phàm nhân,
Đủ lời thệ nguyện Phật ân rộng dài, 
Phật thệ chắc thật không sai. 
Cầu về Tịnh độ ai ai tin lòng, 
Nguyện về Tịnh độ một nhà, 
Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình. 
Hoa nở rồi biết tánh linh, 
Các ông Bồ Tát bạn lành với ta.
 

- Bài sám này của Tổ Từ Vân ở Cao Lãnh, trước tác, nên có tên gọi là Sám Từ Vân.  - Bài được sử dụng ở hầu hết các kinh sách - Là bài Sám Nhứt tâm nghĩa. Biên giả cho mã số thống kê là I.
 
36. SÁM THẬP PHƯƠNG (II)
Mười phương chư Phật ba đời, 
Di Đà bực nhứt chẳng rời quần sanh, 
Sen vàng chín phẩm sẵn dành, 
Oai linh đức cả đã đành vô biên. 
Nay con dưng tấm lòng thiền, 
Qui y với Phật sám liền tội căn,
Phước lành con có chi chăng, 
Ít nhiều quyết cũng nguyện rằng về Tây. 
Nguyện cùng với bạn tu đây, 
Tùy thời cảm ứng hiện nay điềm lành.
Biết giờ biết khắc rõ rành,
Lâm chung tận mặt cảnh lành Tây phương.
Thấy nghe chánh niệm hơn thường,
Vãng sanh lạc quốc đồng nương hoa vàng,
Hoa nở thấy Phật rõ ràng, 
Thoát vòng sanh tử độ an muôn loài.
Phiền não vô biên thệ dứt trừ,
Pháp môn tu học chẳng còn dư, 
Chúng sanh nguyện độ bờ kia đến,
Phật đạo cùng nhau chứng trí như.
Hư không cõi nọ dẫu cùng,
Nguyện trên còn mãi chẳng cùn, chẳng thiên.
Không tình cùng với đồng nguyền,
Trí mầu của Phật đồng viên đồng thành.
Nay con lại nguyện tu hành,
Phổ Hiền nguyện lớn sẵn dành mười môn.
Một là nguyện lạy Thế Tôn, 
Hiện thân trước Phật hết lòng kính tin. 
Hai khen Phật đức rộng thinh,
Lời hay tiếng tốt tận tình ngợi ca, 
Ba thời sắm đủ hương hoa,
Tràng phan bảo cái dâng ra cúng dường.
Bốn vì mê chấp lầm đường,
Tham sân nghiệp chướng con thường sám luôn.
Năm suy công đức vàn muôn,
Của phàm của thánh con đồng vui ưa. 
Sáu khi Phật chứng thượng thừa,
Pháp mầu con thỉnh đã vừa truyền trao.
Bảy lòng chẳng chút lãng xao,
Cầu xin chư Phật chớ vào Vô dư.
Tám thường tu học Đại thừa, 
Bao giờ bằng Phật mới vừa lòng con.
Chín thề chẳng dám mỏi mòn,
Dắt dìu muôn loại đều tròn pháp thân. 
Mười đem tất cả công huân, 
Mọi loài cùng hưởng khắp trần cùng vui. 
Mười điều nguyện lớn nguyện rồi,
Nguyện về Cực lạc nguyện ngồi tòa sen.
 

- Bài sám Thập phương diễn nghĩa này chưa rõ xuất xứ - chỉ biết được sử dụng trong hầu hết kinh Nhật Tụng miền Trung và miền Nam. Có thể do hai Ngài : Tổ Bích Liên hoặc Tổ Huệ Đăng trước tác? - Theo thứ lớp sắp đặt, Biên giả cho mã số diễn nghĩa là II.
 
37. SÁM THẬP PHƯƠNG (III)
Thập phương diễn nghĩa một trương,
Ai dùng thời chép để thường tụng kinh. 
Tụng rồi quỳ trước Phật đình, 
Âm thanh tán thán độ mình nhiều phương, 
Phật truyền khắp hết mười phương,
Thấy trong ba cõi cảm thương vô cùng. 
Chín từng hoa nở đơm bông,
Các hàng Phật tử phụng rồng xung quanh. 
Con nay sám tán hiệu danh, 
Mãn duyên thời đặng chẳng thành lẽ đâu, 
Tấm lòng chí quyết kính cầu, 
Trước thời tưởng Phật sau hầu về Tây. 
Muốn cho trả đặng ơn dày,
Phải toan thẳng đến tầm Thầy cầu duyên.
Bổn sư là Phật hiện tiền, 
Đạo làm đệ tử cầu nguyền hỏi han,
Nhờ Thầy chỉ dẫn Tây phang.
Thành công đắc quả biết đàng mà đi, 
Bồ đề là đạo từ bi.
Liễu đường sanh tử hết nghi tấm lòng,
Chớ đừng trễ nải long đong,
Dứt tâm phiền não chứa lòng pháp môn. 
Di Đà đức Phật Thế Tôn, 
Từ bi độ chúng không môn thẳng vào. 
Lời Phật như thể non cao, 
Ai mà theo Phật khỏi vào Diêm La.
Trời cao đất rộng hằng sa,
Hư không mòn hết nguyện ta còn hoài.
Một là lạy Phật hôm nay, 
Các vì chư Phật kim đài chứng tri.
Hai là thọ phái quy y, 
Thích Ca Văn Phật Mâu Ni độ đời.
Ba là tín nhiệm Phật trời,
Chúa tôi phải đạo đáng nơi cúng dường.
Bốn là lạy Phật mười phương,
Xin cho nghiệp chướng tai ương lánh mình. 
Năm là các vị thần linh, 
Vui cười cả thảy quỉ tinh yêu tà.
Sáu là với huyễn thân ta, 
Linh hồn theo Phật liên hoa hiền tiền.
Bảy là lạy Phật ở yên,
Dứt đường sanh tử lưu truyền hưng long. 
Tám là Phật ở nơi trong, 
Phàm tình chẳng thấy, dẫy đầy Phật đâu.
Chín là tỏ đặng pháp mầu,
Trường sanh bất tử độ đời chúng sanh. 
Mười là bỏ dữ làm lành,
Khắp trong sa giới quốc thành đặng an. 
Tôn sư diễn nghĩa ít hàng,
Cầu cho bá tánh Tây phương mau về. 
 

- Bài sám Thập phương diễn nghĩa nầy do Tổ Huệ Đăng trước tác - Theo lời xác nhận của Hòa thượng Pháp Lan chùa Khánh Hưng TPHCM. Vào khoảng năm - 1930 tại chùa Thiên Thai - Bà Rịa.  - Biên giả cho mã số diễn nghĩa là III.
 
38. SÁM CHÂU HOẰNG (Sám Tán Di Đà IV)
Châu Hoằng thầy hiệu Liên Trì, 
Làm văn phát nguyện chỉ qui một đường.
Cúi đầu làm lễ Tây phương,
Tịnh bang giáo chủ pháp vương Di Đà.
Độ người vượt khỏi ái hà,
Dắt ra hầm lửa nhảy ra nghi thành.
Tôi nay phát nguyện vãng sanh,
Nguyện về Cực lạc nêu danh sen vàng.
Ngưỡng trông vòi vọi đạo tràng,
Dủ lòng thương xót mà mang tôi về.
Tôi thường ba cõi đắm mê, 
Bốn ơn càng trọng lo bề cứu nhau,
Tưởng gì đời lắm thảm sầu, 
Quyết lòng nên đạo, độ sau luân hồi.
Không trên một bực mà thôi, 
Sáng trưng đường lối không nơi nào bì.
Nên tôi lòng gắn dạ ghi,
Chuyên cần niệm Phật không khi nào rời. 
Phật là bực cả khắp trời, 
Cứu người thoát tử độ đời vô sanh.
Còn lo nghiệp trọng phước khinh,
Phước dầy huệ mỏng phàm tình tối tăm.
Còn lo lòng nhiễm dễ lầm,
Duyên trên chưa sạch tánh thần khó nên. 
Tôi nay tình nguyện khởi lên,
Cúi gieo năm vóc thiệt bền lòng ngay,
Mở gan trải dạ tỏ bày, 
Chí thành sám hối trong ngày Phật thương.
Chúng tôi nhiều kiếp oan ương,
Từ đời thuở trước không lường đến nay. 
Bởi vì mê tối dại ngây, 
Sân si quen nết cãi thầy dạy khuyên.
Ví như ba nghiệp đảo điên,
Dầu cho nước biển rửa liền sạch đâu. 
Than ôi tội nghiệp lấp đầu, 
Nguồn ân biển ái thẳm sâu vô cùng. 
Ngửa trông đức Phật bao dung,
Tội mòn nghiệp hết sạch không buổi nầy.
Quyết lòng niệm Phật ăn chay,
Chí tâm thề nguyện từ rày đến sau. 
Ví dầu tôi có ở đâu, 
Lánh xa bạn dữ chẳng hầu tựa nương, 
Gắng tu đạo Phật giữ thường,
Thề không thối chuyển mắc đường thai sanh,
 Nguyện sao tu luyện mau thành,
Đặng mà cứu độ phàm tình thoát ra.
Cha lành là Phật Di Đà, 
Đem lòng quảng đại để mà độ tôi.
Đoái thương mấy đoạn khúc nôi,
Chứng tri đệ tử luân hồi oan khiên,
Cầu cho giấc ngủ rõ ràng.
Thấy Di Đà Phật hào quang rạng mình, 
Cầu cho sắc tướng quang minh. 
Thấy Di Đà Phật tâm tình đặng an,
Nguyện cầu lên cảnh Lạc bang,
Thấy Di Đà Phật trên đàn giảng kinh, 
Cam lồ Phật rưới đầy mình, 
Hào quang Phật chiếu thanh minh tâm thần, 
Cầu cho y Phật đắp thân.
Tay vàng Phật đỡ thoa lần đầu tôi,
Cầu cho chướng trước dứt chồi.
Gốc lành thêm lớn vun bồi tốt tươi,
Cho tôi sạch hết việc đời,
Trong lòng thanh tịnh như người Tây phương.
Tánh linh mầu nhiệm tỏ tường,
Mau nghe chánh pháp như gương trên đài,
Mầu huyền thanh tịnh khoan thai,
Tịnh quang cõi Phật thấy hoài không ngơi. 
Như tôi gần có qua đời, 
Khiến cho linh tánh đặng tôi biết liền, 
Đừng cho bịnh khổ vào thân, 
Tử an sanh thuận như thần bao xưa, 
Đừng cho trìu mến dây dưa,
Đừng cho Thánh Phật long thơ Tống trào. 
Sáu căn đừng có lao xao, 
Rõ ràng chánh niệm như sao bắc thần, 
Hết rồi một đoạn báo thân,
Vào trong thiền định xuất thần Tây qui, 
Ngó gần thấy Phật A Di,
Quan Âm, Thế Chí trụ trì trước ta, 
Các ông Thánh chúng hằng sa, 
Tuôn hào quang xuống chói lòa rước tôi, 
Duỗi tay xuống tiếp một hồi.
Lầu đài cờ phướn đông thôi quá chừng,
Nhạc trời tấu trổi vang lừng,
Mùi nhang thơm ngát vui ưng tấm lòng,
Tây phương cõi Phật thung dung, 
Rõ ràng trước mắt hiện ra cõi này,
Kẻ nghe người thấy vui thay,
Khiến cho ai nấy liền ngày phát tâm. 
Tưởng người chánh tín tưởng thầm 
Bước vô đạo Phật khỏi hầm lửa thiêu,
Vui thay cõi Phật tiêu diêu,
Ai theo Phật rước cao siêu liên đài. 
Vung tay về chốn kim giai,
Trong hồ thất bảo hiện ngay liên bào,
Tòa sen rực rỡ trong ao 
Đỏ, xanh, vàng, trắng tuôn hào quang ra,
Tôi ngồi chểm chệ trong hoa, 
Phật cùng Bồ Tát hằng hà nhóm đông, 
Tôi nghe pháp nhiệm tỏ lòng,
Chứng vô sanh nhẫn chơn tông thượng thiền, 
Chỉ trong giây phút thành duyên, 
Vẳng nghe chư Phật dạy truyền pháp âm, 
Đặng nhờ thọ ký ấn tâm,
Dạy rồi linh tánh bao năm nhớ hoài, 
Ba thân bốn trí lâu dài, 
Sáu thông năm mắt chuyện ai cũng tường,
Đà la thần chú nhiều phương,
Pháp nào cũng biết như gương soi lành, 
Bao nhiêu công đức chứng minh, 
Nhớ ghi gồm đủ như kinh Phật truyền,
Mình đã cõi Phật ở yên, 
Nhớ lời thệ trước độ duyên Ta bà, 
Thần thông biến hóa thân ta, 
Khắp mười phương thảy hiện ra phép mầu, 
Từ bi phước đức thâm sâu,
Có duyên hóa độ đâu đâu vâng lời,
Khắp trong cả thảy nhiều nơi,
Cũng đều độ hết người đời trầm luân 
Khiến cho lòng tịnh quen lân,
Dứt tình ái dục lưu phần thiện lương.
Dắt người về đến Tây phương, 
Vào hàng bất thối náu nương bạn lành, 
Lòng tôi thệ độ chúng sanh, 
Rộng như biển cả cũng dường hư không, 
Hằng hà thế giới đều thông, 
Chúng sanh phiền não độ đồng sạch trơn,
Nếu mà còn để nhơn nhơn, 
Nguyện tôi không hết như đờn dứt dây, 
Phật thường chứng lễ nguyện nầy, 
Tu trì công đức độ ngay hữu tình, 
Bốn ơn đền đáp phân minh, 
Ba đường cứu vớt siêu sanh cõi mầu,
Nguyện chung thế giới ba ngàn, 
Vẹn tràn một trí vào ban Phật đài. 
Nguyện về Cực lạc một nhà, 
Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình, 
Hoa nở rồi biết tánh linh, 
Các ông Bồ Tát bạn lành với ta, 
Huệ Lưu diễn nghĩa chép ra,
Ai tu Tịnh độ học mà sám chung.
 
 

- Trích từ "Kinh Di Đà nghĩa và 36 sám hay" và đối chiếu với kinh Tam Bảo của Thích Ca tự - Sàigon 1967. - Có đối chiiếu với các dị bản khác- Nguyên tác của Tổ Châu  Hoằng - Liên Trì Đại sư - Tổ Huệ Lưu chùa Huê Nghiêm Thủ Đức diễn nghĩa.
 
39. SÁM HỒI ĐẦU  (Sám phát nguyện IV)
Cúi đầu làm lễ Chí Tôn, 
Quì trước Phật điện thần hôn mỗi ngày,
Chúng con xin chút tỏ bày,
Nguyện làm Phật tử đời này tu thân,
Khắp trong sáu thú xoay vần,
Luân hồi mãi mãi nhiều lần khốn thay, 
Con nay quyết chí tìm thầy, 
Tầm phương giải thoát buổi này đặng an,
Tây phương Phật phóng hào quang, 
Chứng minh đệ tử ba ngàn đại thiên,
Tinh thần một đấng thiêng liêng, 
Vì chúng ngũ trược liên miên cõi trần, 
Sanh sanh tử tử mấy lần,
Quyết lòng theo Phật phải cần sửa sang.
Tam qui ngũ giới rõ ràng,
Sa di thập giới buộc ràng cho tinh, 
Cầu xin Phật Tổ chứng minh, 
Ngưỡng trên lượng cả cúi xin hộ trì,
Lòng an thành thật chỉ qui,
Quyết về Cực lạc liên trì tịnh bang.
Thân người vì khổ buộc ràng,
Sanh lão bịnh tử mơ màng chiêm bao, 
Hy sinh nhứt thiết sang giàu, 
Náu nương Phật pháp đặng vào phẩm cao, 
Cuộc đời nhiều nổi lao đao,
Nếu lầm hoàn cảnh càng đau tấc lòng,
Sanh không hề tử dã không, 
Gian tâm xâu xé lòng mong sống đời,
Có khi vật đổi sao dời,
Ngọc vàng châu báu để đời người sau,
Ai ơi thức tỉnh cho mau, 
Kíp mong giải thoát khỏi vào trầm luân.
Phù sanh lắm nổi gian truân, 
Có thân phải lụy vì chưng sắc tài,
Từ đây kinh kệ hôm mai,
Dứt lòng phiền não dồi mài thân tâm, 
Cầu xin hiểu lý thậm thâm, 
Pháp môn vô lượng khó lầm sai ngoa,
Chúng con ngưỡng vọng Thích Ca,
Cha lành ba cõi Ta bà độ sinh, 
Cầu xin tế độ viên thành,
Thuyền từ bửu phiệt tu hành đặng lên. 
Ngưỡng nhờ lượng thánh ơn trên, 
Quần sanh thống khổ sanh nên đạo mầu,
Con nay hết dạ khẩn cầu,
Di Đà tiếp dẫn ngõ hầu siêu thăng.
Từ nay kíp phải ăn năn,
Tội đời vô thỉ cũng hằng đặng tiêu,
Sen vàng chín phẩm tiêu diêu,
Bảo y ngọc thực mỹ miều thiếu chi.
Sanh linh từ dục hành vi,
Chiến tranh tràn sát thây thi ngất trời,
Tham sân ích kỷ suốt đời,
Gây nên thảm họa thây phơi dinh hoàn, 
Cực điểm thống khổ lầm than,
Vì chưng ngũ trược cưu mang tấc lòng. 
Hy vọng thế giới tây đông,
Tu nhơn tích đức hầu mong thái bình,
Cầu cho nhơn loại an ninh, 
Nghiêu thiên Thuấn nhựt thái hòa vạn an.
Ta bà Tịnh độ nhứt bang,
Nhơn sanh hạnh phúc hoàn toàn hưởng chung,
Tinh thần vật chất thung dung,
Thoát ra khổ hải đặng vào Lạc bang,
Chúng con chúc nguyện ít hàng,
Cầu cho toàn thể Tây phương mau về.
 

- Trích từ "Tam Bảo Tôn Kinh" (sđd)  đối chiếu sửa chữa lại qua "Liên Hoàn Sám Nguyện" và kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác (sđd).  - Có tên tựa khác là Sám cúi đầu (Tam Bảo Tôn Kinh).
 
40. SÁM THỌ KÝ  (Sám tán Di Đà V)
Một lòng niệm Phật Di Đà,
Kinh tâm bạch tự mở ra độ đời,
Ấn tâm thọ ký hiện thời,
Kim ngôn phú chúc khắp nơi đắc thành,
Ăn chay niệm Phật làm lành,
Từ bi hỉ xả tu hành gắng công,
Nghe danh thấy tánh tỏ thông,
Bổn lai diện mục Phật lòng chẳng xa,
Định tâm thấy Phật lòng ta, 
Tây phương cõi Phật Di Đà phân minh,
Quan Âm thần lực oai linh, 
Hóa thân thọ ký cầm bình nước bông, 
Cam lồ rưới khắp giáp vòng,
Chúng sanh mát mẻ vui lòng hiền lương,
Mở khai tâm pháp tỏ tường, 
Tịnh lòng thấy Phật mười phương độ mình,
Chơn truyền bổn thể tánh linh, 
Tam thân vô tướng vô hình sống lâu, 
Không thương không ghét không sầu 
Không tham không giận có đâu luân hồi, 
Việc đời muôn việc thôi thôi, 
Sắc tài danh lợi phủi rồi không không,
Các hàng chư Phật không lòng, 
Con nay đệ tử cũng đồng quy y, 
Nương theo đức Phật từ bi, 
Mãn duyên theo Phật tức thì phóng quang,
Về nơi Cực lạc Tây phương
Hoa khai kiến Phật hào quang sáng lòa.
Thường thường thấy đức Di Đà,
Hai hàng tứ chúng lục hòa sáng trong,
Thấy ông Bồ Tát quá đông,
Lóng nghe Phật thuyết vui lòng mở khai,
Minh tâm kiến tánh Như Lai,
Pháp thân thanh tịnh sống dai đời đời.
Tiêu diêu tự tại thảnh thơi,
Bình an vô sự vui chơi thanh nhàn,
Tốt thay cõi Phật nghiêm trang, 
Nhà lầu bằng ngọc đất vàng khắp nơi,
Đêm ngày nghe pháp sáu thời,
Chim linh thuyết pháp đúng giờ siêng năng,
Người nghe tỏ ngộ siêu thăng,
An lòng niệm Phật, Pháp, Tăng tịnh bình,
Thích Ca giảng đạo độ mình, 
Thích Ca từ phụ chứng minh độ đời.
 

- Trích từ "Kinh Di Đà nghĩa và 36 bài sám hay" (sđd) và đối chiếu lại với "Liên Hoàn Sám nguyện" (sđd).
 
41. SÁM CẦU SIÊU CÚNG MẸ  (Sám báo hiếu I)
Mẹ ôi con rất đau lòng, 
Nhớ thương từ mẫu bế bồng nuôi con, 
Công lao khó nhọc mỏi mòn,
Tanh hôi giặt rửa vì con ốm gầy,
Con đau mẹ chạy thuốc thầy, 
Vái van chùa miếu đủ đầy cầu xin,
Than ôi cốt nhục thâm tình, 
Biết sao trả đặng mẹ mình dày công.
Bây giờ nhìn cảnh đau lòng, 
Mẹ đã về chốn non bồng xa chơi,
Bỏ con lặn hụp biển khơi,
Sống trong khổ não lụy rơi chan hòa,
Biết đâu tìm kiếm mẹ già, 
Nhìn lên hương án trong nhà quạnh hiu,
Cháu con thơ dại chít chiu,
Như gà mất mẹ chạy kêu lạc đàn, 
Lòng con thương nhớ thở than, 
Cơm dưng ba bát vái van mẹ về, 
Cổ bàn dọn cúng ê chề,
Nhìn sao chẳng thấy mẹ về uống ăn, 
Mẹ về vãng cảnh chị Hằng, 
Chúng con cúng giỗ làm văn tế ruồi. 
Nhắc thôi đau khổ ngậm ngùi,
Nhớ thương từ mẫu sụt sùi lệ sa, 
Thành tâm thiết lễ trai gia,
Một lòng cầu Phật Di Đà độ vong, 
Nguyện cầu Địa Tạng thương lòng, 
Cứu độ hồn mẹ thoát vòng oan khiên, 
Cầu Ngài Tôn giả Mục Liên, 
Ban cho Diệu pháp, Phật truyền lục thông, 
Xin Ngài thương xót gắng công, 
Cứu độ phụ mẫu tổ tông thoát nàn,
Khỏi nơi địa ngục khóc than,
Về nơi Cực lạc sen vàng điểm tên.
Nguyện cầu phụ mẫu sớm lên,
Liên hoa cửu phẩm nêu tên đời đời,
Ở nơi Cực Lạc vui chơi,
Hộ trì tang quyến thảnh thơi an nhàn, 
Nam mô Tịnh độ Lạc bang, 
Độ vong hồn đặng Tây phương mau về.
Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.
 
 

- Trích Kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác - trang 335-336 Sài gòn 1974 - Thuộc về Sám tụng sử dụng trong  kỳ siêu hoặc cúng vong.
 
42. SÁM BÁO HIẾU MẪU THÂN  (Sám báo hiếu II)
Báo ân nghĩa trọng vô biên, 
Huyên đường nay đã huỳnh tuyền xa chơi,
Dương trần con chịu mồ côi,
Hai mươi bốn thảo chưa bồi dưỡng sinh,
Nhớ câu đất rộng trời dài, 
Sông sâu bể thẳm non đoài cách xa,
Mẹ hiền khuất dạng trong nhà,
Bỏ con thơ dại vào ra một mình, 
Đau lòng vì nỗi tử sinh,
Nhớ thương từ mẫu dứt tình biệt ly, 
Cháu con sầu thảm ai bi, 
Ra vào chẳng thấy dung nghi hàng ngày, 
Trời cao đất thẳm có hay, 
Mẹ con xa cách càng cay càng phiền, 
Con còn vui sống triền miên, 
Mất mẹ gan ruột đảo điên muôn phần, 
Than ôi, từ mẫu thâm ân, 
Biết đâu tìm kiếm phân vân đêm ngày. 
Nhớ ơn cúc dục cao dày, 
Bây giờ chỉ thấy linh đài lạnh tanh, 
Sớm khuya lặng lẽ một mình, 
Vắng sau quạnh trước bóng hình mẫu thân, 
Dưỡng sanh non biển sánh bằng,
Cưu mang mười tháng dạ hằng lo âu, 
Nhiều khi am tự khấn cầu, 
Cho con mạnh khỏe ngày sau nối dòng,
Khi con vừa mới lọt lòng, 
Ba năm bú mớm ẵm bồng trên tay,
Mẹ cha vất vả đêm ngày, 
Trông con mau lớn chẳng nài công lao,
Nhứt là những lúc ốm đau,
Mẹ cha khổ cực không sao nghĩ bàn,
Thuốc thang luống chịu cơ hàn, 
Thấy con mạnh khỏe hân hoan vui mừng, 
Khuyên con ăn ở có chừng,
Nào là trai gái giữ thuần nết na, 
Dạy con khắp hết việc nhà,
Mẫu từ, Tử hiếu thuận hòa nên danh, 
Bây giờ nhìn nấm mồ xanh,
Mộ đầy cỏ mọc chung quanh bịt bùng, 
Về nhà thấy dạng chân dung, 
Đèn hương khói tỏa nhớ cùng mẫu thân,
Nhớ mẹ đau khổ muôn phần, 
Tìm đâu gặp đặng mẫu thân dễ dàng, 
Lòng con thương nhớ khóc than, 
Cơm dưng ba bát vái van mẹ dùng, 
Làm sao trả thảo báo ân, 
Đôi hàng châu lụy tuôn dòng thở than,
Đêm thâu giấc mộng mơ màng, 
Giựt mình thức giấc bàng hoàng năm canh, 
Mẹ đà về chốn Diêm thành, 
Bỏ con dương thế cam đành xót xa,
Ruột đau từ đoạn thiết tha,
Nhớ thương từ mẫu lệ sa khôn cầm, 
Năm canh con trẻ đang nằm, 
Áo khô nước mắt ướt dầm như mưa, 
Hồn về chín suối xa đưa,
Diêm la quỷ sứ ngưu lừa gớm ghê, 
Suối vàng cũng gọi là quê, 
Ai ai không khỏi đọa về khổ thân, 
Làm con báo hiếu chuyên cần, 
Nguyện cầu Phật Tổ oai thần cứu ra.
Ngày nay thiết lễ trai gia (ma chay),
Lòng thành cầu Phật Di Đà chứng minh, 
Quan Âm, Thế Chí đồng thinh,
Đức Ngài Địa Tạng độ hình mẫu thân,
Hà sa chư Phật Long thần, 
Phóng quang tiếp dẫn mẫu thân thượng trình, 
Hương hồn về chốn Phật đình, 
Sen vàng chín phẩm hóa hình ngồi trong, 
Ngồi trên phẩm báu hư không, 
Nương theo chơn Phật thong dong Lạc thành, 
Mẹ đã về cõi vô sanh, 
Tội tiêu nghiệp dứt quả lành muôn năm.
Lạy cầu chư Phật từ tâm, 
Di Đà thọ ký hồn âm trọn lành, 
Nguyện hồn về chốn Lạc thành,
Chứng ngôi bất thối vô sanh đời đời, 
Cầu cho hồn đặng thảnh thơi, 
Hộ trì tang quyến đến nơi đạo tràng,
Tụng kinh lễ Phật cầu an, 
Phát tâm tu niệm Lạc bang mau về.
 

- Trích đối chiếu bổ sung từ hai bản "Liên hoàn sám Nguyện" và "Kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác (Sđd). - Ơû bản in Liên Hoàn Sám Nguyện thiếu mất bốn câu từ 43 đến 46 và bản in tuyển tập 55 bài Sám phổ thông trước căn cứ vào đây nên cũng thiếu. Nay bổ sung từ bản của kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác cho đủ với nguyên tác.
 
43. SÁM BÁO HIẾU PHỤ THÂN 
  (Sám báo hiếu III)

Thành tâm báo hiếu con quỳ,
Phụ thân nay đã biệt ly dương trần, 
Con chưa đáp được mười ân, 
Mà nay cha đã qua phần còn đâu ! 
Nhắc thôi thêm thảm thêm sầu, 
Làm con chưa trọn được câu sanh thành.
Từ nay cha đã khuất hình, 
Trước sau vắng vẻ gia đình quanh hiu,
Bỏ con thơ dại chít chiu,
Đâu còn như sống mà kêu con về. 
Công lao khó nhọc nhiều bề,
Đêm ngày lo lắng nặng nề vì con,
Ba năm nuôi dưỡng hao mòn, 
Chăm nom nuôi trẻ đâu còn rảnh rang. 
Lắm lần cầu nguyện vái van, 
Cho con khôn lớn nên đàng công danh, 
Rồi nay con được trưởng thành,
Chưa hề báo đáp công sanh phần nào, 
Sanh thành dưỡng dục cù lao, 
Gia đình gánh nặng làm sao an nhàn, 
Sợ con lêu lõng sa đàng,
Sợ vì bịnh hoạn lại càng lo âu,
Cha không lên gác xuống lầu, 
Bỏ con vất vả đồng sâu nắng hè,
Cha không xuống ngựa lên xe, 
Bỏ con đói rách chịu bề lang thang, 
Cha không dư dả bạc vàng, 
Bỏ con khốn khổ cơ hàn lều tranh,
Nuôi con dạy dỗ học hành,
Miễn cho con đặng trưởng thành nên danh.
Thương con cha bỏ sao đành, 
Nay vì số phận cha đành biệt ly,
Nhỏ còn thơ dại biết chi, 
Lớn khôn mới rõ cha thì dày công.
Từ nay hết đợi hết trông, 
Thi hài cha gởi ra đồng cỏ xanh.
Về thăm đâu thấy dạng hình, 
Bàn hương vắng vẻ đèn xanh nhang tàn.
Lòng con thương nhớ thở than,
Cơm dâng ba bát vái van cha về.
Chứng cho con cháu đồng quỳ,
Nguyện cha về chốn liên trì Lạc bang.
Thành tâm con lập trai đàn,
Nhờ ơn Phật Tổ chứng đàn khai kinh. 
Con cầu chư Phật chứng minh, 
Địa Tạng Bồ Tát thương tình độ vong. 
Con nay cầu nguyệân hết lòng,
Cầu cho từ phụ thoát vòng khổ luân.
Mới là đáp được thâm ân,
Ơn cao như núi nghĩa gần biển sâu, 
Thành tâm khấn nguyện cúi đầu,
Từ bi tiếp dẫn xin cầu vãng sanh,
Nguyện cho hồn đặng an lành, 
Đồng về Cực lạc đồng sanh sen vàng.
Nam mô Tịnh độ Lạc bang,
Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

- Trích  đối chiếu bổ sung từ hai bản : "Kinh Nhựt Tụng chùa Đại Giác" và "Liên Hoàn Sám Nguyện" (sđd).

0 Kommentare:

Chia Sẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites